• TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
  • SẢN PHẨM
    • Lương thực
    • Hàng gia dụng
    • Thực phẩm
    • Đặc sản vùng miền
    • Quà tặng
    • Thiết bị gia dụng
    • Bánh kẹo, nước ngọt
  • BÁNH TRUNG THU
  • TIN TỨC
  • LIÊN HỆ
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THỰC PHẨM FFL
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THỰC PHẨM FFL
Hotline: 0989.626.091
  • TRANG CHỦ
  • GIỚI THIỆU
  • SẢN PHẨM
    • Lương thực
    • Hàng gia dụng
    • Thực phẩm
    • Đặc sản vùng miền
    • Quà tặng
    • Thiết bị gia dụng
    • Bánh kẹo, nước ngọt
  • BÁNH TRUNG THU
  • TIN TỨC
  • LIÊN HỆ
  0989.626.091
  thucphamffl@gmail.com
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THỰC PHẨM FFL
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THỰC PHẨM FFL
Menu
Tìm kiếm
0366.11.9393
  1. Trang chủ
  2. Tin thị trường
  3. PHẦN I: BÀI 2 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM TỪ GẠO THƯỜNG

PHẦN I: BÀI 2 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM TỪ GẠO THƯỜNG

Ngày: 27/10/2026

5: Bánh Đúc (Plain Rice Flan)

A. Giới thiệu

Bánh đúc là một loại bánh làm từ gạo tẻ mà không dùng lá bọc. Bánh đúc có nhiều loại như bánh đúc lạc, bánh đúc dừa, bánh đúc nộm và bánh đúc lá dứa. Mỗi loại có cách chế biến, cách ăn khác nhau đều rất ngon và mang những hương vị rất đặc sắc.

Bánh đúc lá dứa xanh như ngọc, cắt thành từng miếng dài, sắp vòng tròn trong dĩa, chan nước cốt dừa, bên cạnh có thêm chén nước đường được điểm ít đậu phộng, mè. Cái ngon của bánh phải là thứ bột xay thật nhuyễn, khuấy thật kỹ để nguội ăn trơn tuột như miếng thạch vừa dẻo, vừa dòn, khi nhai thấy thơm ngan ngát mùi lá dứa.

 

B. Quy trình sản xuất

 

C. Giải thích quy trình

Nguyên liệu: để làm được bánh đúc ngon phải chọn được loại gạo tẻ ngon, không bị mốc hay sâu mọt, không có mùi lạ làm ảnh hưởng đến giá trị cảm quan của bánh. Thành phần chủ yếu trong gạo là tinh bột, chính các hạt tinh bột này khi bị hồ hóa sẽ tạo nên cấu trúc bánh.

Ngâm gạo: gạo được vo, rửa sạch chất bẩn bám bên ngoài, sau đó được ngâm với nước sạch trong thời gian 2 ngày, thể tích nước ngâm gấp 2 lần thể tích gạo. Mục đích của quá trình này là nhằm giúp hạt gạo hút nước, trương nở và mềm hơn để quá trình xay được dễ dàng. Nếu thời gian ngâm ít thì hạt gạo chưa hút đủ nước, nhưng nếu ngâm với thời gian quá dài sẽ làm chua gạo và nước ngâm. Trong quá trình ngâm nên cho thêm một ít muối vào gạo để hạn chế các vi khuẩn lên men chua. Sau thời gian ngâm, gạo hút một lượng nước xấp xỉ 50% lượng nước sử dụng.

Xay: Quá trình xay gạo thành bột nhằm phá vỡ cấu trúc hạt gạo, giải phóng các hạt tinh bột để quá trình hồ hóa tinh bột dễ dàng và ít tốn năng lượng hơn. Có thể sử dụng cối xay bằng đá với tỷ lệ gạo : nước là 1:1 tức là cứ một muỗng gạo cho vào cối xay, ta cho một muỗng nước vào. Nước thêm vào có tác dụng giúp hòa tan các hạt tinh bột, làm giảm sự ma sát của cối và giảm nhiệt độ trong quá trình xay.

Các nguyên liệu:

  • Lá dứa: rửa sạch, cắt nhỏ, sau đó đem xay nhuyễn. Cho thêm nửa chén nước, nhào trộn và vắt, lọc lấy phần nước dùng để nấu bánh. Nước lá dứa không chỉ tạo nên màu xanh cho bánh mà còn làm cho bánh có được một mùi thơm nhẹ nhưng đặc trưng của lá dứa.
  • Đậu phộng: cho vào chảo nóng, rang vàng, sau đó bóc vỏ và nghiền nhỏ.
  • Mè: tương tự như đậu phộng, rang vàng và đập dập.
  • Nước dừa: Cho nước ấm vào phần dừa khô đã nạo, nhào trộn và vắt, lược lấy phần nước cốt. Lượng nước thêm vào nên theo tỷ lệ dừa : nước là 1:1. Cho nước dừa vào nồi cùng với 1 muỗng nhỏ bột mì, đun sôi đến khi nước dừa sánh lại. Trong quá trình nấu nên sử dụng lửa nhỏ để tránh làm biến màu dừa do nhiệt độ quá cao.
  • Nước đường: hòa tan đường với nước, sau đó đun sôi, khuấy đều cho đến khi dung dịch trở nên sánh và có màu vàng nâu.

Cô đặc: Công đoạn này còn gọi là tạo gel cho bánh. Phần bột sau khi xay được hòa tan với nước lá dứa rồi cho vào nồi lớn, gia nhiệt, đun sôi hỗn hợp và khuấy liên tục, đều tay cho đến khi bột đặc quánh lại. Công đoạn này nhằm hồ hóa các hạt tinh bột để chúng hút nước, trương nở và tạo thành gel. Đây là cấu trúc của bánh đúc có tính chất dai và giòn nhẹ. Để tăng độ dai, dòn của bánh ta có thể cho vào bột 1 muỗng nhỏ nước tro tàu trong quá trình khuấy bánh. Nước tro tàu có thành phần chủ yếu là KOH, đây là dung dịch có tính kiềm vừa phải có thể ion hóa từng phần làm tinh bột hòa tan rất dễ, hút và giữ nước tốt hơn.

Để làm được miếng bánh đúc ngon, cần phải chú trọng các thao tác khuấy và nhiệt độ. Phải để lửa đỏ thật đều bánh mới chín ngon được, nấu bánh làm sao đừng để bột vón cục khi nấu, không được để cháy khét. Khi muốn thử xem bánh đã đủ dẻo chưa, có thể nhìn vào đũa, nếu nhấc đũa lên thấy bột bánh chảy xuống dọc đũa là được.

Làm nguội: khi hỗn hợp bột đã đạt được độ dẻo, cho hỗn hợp ra khuôn và làm lạnh khuôn bằng nước. Trong quá trình để nguội hỗn hợp hồ tinh bột, các phân tử tinh bột ở nồng độ cao sẽ tương tác với nhau bằng các liên kết hydro và sắp xếp lại một cách có trật tự để tạo thành gel tinh bột có cấu trúc mạng ba chiều. Chính hệ gel này tạo cho bánh có một cấu trúc vừa dẽo vừa dòn.

Sau khi khối bánh đã được định hình, cắt chúng thành những miếng nhỏ vừa ăn với kích thước khoảng 2 x 4 cm. Khi ăn chan thêm nước đường và nước cốt dừa, rắc đậu phộng và mè rang vàng lên trên.

D. Giá trị dinh dưỡng

Bánh đúc được làm hoàn toàn từ bột gạo nên thành phần chủ yếu là tinh bột, hầu như không chứa chất đạm và chất béo. Hiện nay, bánh đúc đã khá quen thuộc với mọi người dân Việt Nam, là món tráng miệng và rất đặc sắc

6: Bánh Hỏi (Fine Rice Vermicelli)

A.     Giới thiệu

Bánh hỏi là món ăn rất phổ biến ở Việt Nam. Bên cạnh là món ăn bình dân hàng ngày, có thể được dùng trong bữa ăn sáng hay trong các bữa ăn chính thay cơm, bánh hỏi còn là món ăn sang trọng được thết đãi khách trong các dịp tiệc, lễ, đám quan trọng. Bánh hỏi là biến thể của bún tươi. Bánh hỏi và bún có cách chế biến tương tự nhưng bánh hỏi được làm cẩn thận và công phu hơn.

Bánh hỏi là món ăn đặc sản của người dân Bình Định. Người Bình Định thường ăn bánh hỏi cùng với dầu đậu phụ, lá hẹ xắt nhỏ xào dầu phụ, nước mắm ngon, hay sang trọng hơn là dùng bánh hỏi với lòng heo, thịt luộc, chạo tôm, bò lụi, gà nướng, thịt nướng, chả giò,…

Ở miền Nam, bánh hỏi cũng là món ăn rất quen thuộc, thường được dùng chung với thịt quay, thịt nướng trong các dịp đám cưới, giỗ, lễ tết,…

Theo Phanxipăng, mặc dù bánh hỏi là đặc sản và là món ăn thường dùng nhất ở Bình Định nhưng bánh hỏi lại có xuất xứ từ miền Nam. Bánh hỏi được du nhập ra miền Trung là do bà Phạm Thị Hằng (1810 – 1901), thường gọi được gọi là đức Từ Dũ, hoàng hậu của vua Thiệu Trị và thân mẫu vua Tự Đức, đưa từ quê nhà Gò Công ra Huế vào thế kỷ XIX.

B.     Quy trình sản xuất


C.  Thuyết minh quy trình

1. Nguyên liệu gạo

Nguyên liệu dùng để sản xuất bún là gạo tẻ. Cần lựa chọn gạo tẻ loại tốt đảm bảo các yêu cầu sau:

  • Gạo tẻ ngon (có thể là gạo thơm)
  • Không bị mốc
  • Không có sâu, mọt
  • Tỷ lệ tạp chất dưới 0,1%

Trước khi đưa vào sản xuất, gạo cần phải được sàng sẩy để loại bớt một phần tạp chất nhẹ và cát sỏi, sau đó đem vo, đãi kỹ bằng nước sạch. Sau khi làm sạch, nguyên liệu (gạo) phải không còn lẫn tạp chất nhất là kim loại, đá sỏi, cao su...

 

2.  Ngâm

Gạo sau khi làm sạch được ngâm trong nước sạch khoảng 10 giờ (1 đêm). Sau giai đoạn này, gạo sẽ được làm mềm nhờ hút được một lượng nước nhất định để khi xay bột sẽ mịn và dẻo hơn. Cần phải dùng đủ lượng nước để ngâm ngập toàn bộ khối gạo.

3.  Nghiền ướt (xay)

Quá trình nghiền có thể được làm bằng tay bằng cách cho một muỗng gạo đã ngâm và một muỗng nước sạch vào cối nghiền, nghiền đến khi gạo mịn và tạo thành dịch bột trắng. Công đoạn này có thể được cơ giới hoá để tiết kiệm thời gian và tăng công suất bằng cách sử dụng máy nghiền 2 thớt kiểu đứng hoặc nằm. Gạo được nghiền cùng với lượng nước vừa đủ qua lưới lọc 2.400 lỗ/cm2, tạo thành dạng bột mịn, làm cho bột dễ tạo hình, chóng chín và tăng độ dai cho sợi bún sau này.

 

4.  Loại bỏ nước

Giúp nhanh chóng chuyển từ dạng dung dịch bột loãng sau nghiền thành dạng bột ẩm, có thể nắn được thành cục. Quá trình làm ráo nước có thể thực hiện trong bể, thúng tre hoặc trong hộc gỗ có lót vải lọc.

5.  Hồ hoá

Khi xử lý nhiệt tinh bột trong nước đến nhiệt độ hồ hoá  thì sẽ xảy ra hiện tượng hồ hoá tinh bột, là hiện tượng tinh bột hút nước, trương nở, tăng thể tích và khối lượng lên gấp nhiều lần.

Nhiệt độ hồ hoá của mỗi loại tinh bột khác nhau, phụ thuộc vào tỉ lệ của các cấu tử amylose và amylopectin cấu thành tinh bột, hình dạng và kích thước hạt tinh bột. Hạt tinh bột gạo có hình dạng đa giác, hàm lượng amylose trung bình khoảng 17%, khả năng trương nở ở 95oC khoảng 19 lần, nhiệt độ hồ hoá của hạt tinh bột gạo khoảng 67 -78oC. Kết quả của quá trình hồ hóa  là hỗn hợp tạo thành khối paste (dạng sệt) giống như gel.

Công đoạn hồ hoá được tiến hành như sau: Cho khối bột đã được làm ráo vào trong nồi nước đang sôi (lượng nước sôi sử dụng bằng với lượng bột cho vào). Trong quá trình nấu, cần khuấy đều và liên tục dịch bột đảm bảo cho khối bột được chín đều. Quá trình nấu kết thúc khi dịch bột vừa chín (dịch bột trở nên đặc, dẻo và trở nên hơi trong).

 

6.  Làm nguội

Sau khi nấu dịch bột đến mức vừa chín, dịch bột được để nguội để tạo điều kiện dễ dàng cho công đoạn nhồi và chia bột sau này.

7.  Nhồi và chia bột

Sau khi làm nguội, khối bột được nhồi kỹ nhằm tạo cho khối bột được dẻo và dai hơn, sau đó được chia thành từng khối nhỏ được gọi là “vặn”.

8. Tạo hình

Cho các “vặn” bột vào khuôn. Khuôn bánh hỏi thường là khối ống bằng đồng, có dạng hình trụ tròn hoặc dạng hình chữ nhật, mặt đáy bịt tấm lưới có nhiều lỗ nhỏ, vừa cỡ kim may luồn qua được. Bánh hỏi ngon hay không phụ thuộc nhiều vào đường kính lỗ. Lỗ nhỏ quá, bột không qua, lỗ lớn quá sợi bánh sẽ lớn ăn không ngon.

Để ép bánh, người ta dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn, ép cho bột chảy ra. Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ nên thợ phải dùng hệ thống đòn bẩy để tạo sức ép lớn. Một người ép, một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột xoăn xoắn tuôn ra. Người bắt bánh đưa tay hứng lấy bánh và ngắt ra từng đoạn chừng 10cm, sau đó đem hấp cách thủy.

Việc tạo hình dựa trên tính chất tạo sợi của tinh bột. Tinh bột sau khi hồ hóa có khả năng tạo sợi khi được ép qua một khuôn có đục lỗ.

 

9. Hấp

Đun nước trong nồi hấp cách thủy cho đến sôi, sau đó cho các sợi bột vào hấp cách thủy khoảng 3 phút là được.

Bánh sau khi hấp được để nguội và có thể dùng với nước mắm, lá hẹ phi với dầu phụ (miền Trung), hay dùng với mỡ hành, nước mắm và rau thơm (miền Nam), hay cầu kỳ hơn, bánh có thể được dùng với các loại thịt nướng, thịt quay, thịt luộc hay lòng,…

 

D. Thành phần dinh dưỡng của bánh hỏi

Giống như bún, bánh hỏi là loại thực phẩm cung cấp nguồn tinh bột cho con người. Tinh bột có vai trò dinh dưỡng đặc biệt quan trọng vì trong quá trình tiêu hoá, tinh bột bị thuỷ phân thành đường glucose, là chất cung cấp nguồn năng lượng (calo) chính cho hoạt động sống của con nguời. Ngoài ra, trong bánh hỏi còn chứa một lượng đáng kể các vitamine nhóm B và khoáng chất (đặc biệt là calcium và sắt).

Thành phần

Đơn vị

Tính trên 100g ăn được

Năng lượng

Kcal

112

Nước

g

72,0

Protein tổng số

g

1,7

Gluxit tổng số

g

25,7

Cellulose

g

0,5

Tro

g

0,1

Calcium (Ca)

mg

12,0

Phospho (P)

mg

32.0

Sắt (Fe)

mg

0,2

Vitamin B1

mg

0,04

Vitamin B2

mg

0,01

 

 

 

7: Bánh Khọt (Moulded Rice Cake)

A. Giới thiệu

Bánh khọt là món bánh dễ làm và rất quen thuộc với người dân Việt Nam, đặc biệt ở Nam Bộ. Bánh được bày lên đĩa cùng với rau thơm các loại, cải xà lách, dưa leo và một chén nước chấm chua ngọt tạo cảm giác thèm ăn cho mọi người dù chỉ mới nhìn qua.

Bánh khọt xuất hiện ở nhiều nơi và ở mỗi vùng lại được cải biến đi chút ít để tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt. Cũng từ bột gạo xay, nhưng bánh khọt Châu Đốc được pha thêm nghệ, bên trên mỗi chiếc bánh lại được cho thêm một con tôm khiến chiếc bánh trở nên "cao cấp" và khi ăn không thấy ngán. Bánh khọt Vũng Tàu lại giữ nguyên màu trắng của bột, không có tôm tươi mà lại được rắc tôm chấy (chiên giòn) lên gần giống với bánh bèo Đà Nẵng.


Khuôn bánh khọt phải bằng đất nung thì bánh mới ngon. Hình ảnh các mẹ, các chị ngồi bên khuôn đất, chăm chú chiên từng cái bánh khọt nhỏ bao giờ cũng để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với loại bánh này.

B. Quy trình sản xuất

C. Giải thích quy trình

1 Chuẩn bị

Rau sống: rau dùng ăn bánh khọt đơn giản hơn bánh xèo, thường chỉ gồm rau thơm, xà lách và dưa leo. Tất cả đều được rửa sạch, để ráo và xếp ra mâm, riêng dưa leo được cắt thành lát mỏng.

Nước chấm: tỏi tươi và ớt bằm thật nhuyễn, cho vào nước ấm, đường, chanh và khuấy đều, sau đó cho từ từ nước mắm vào, nêm nếm vừa ăn. Nước chấm ngon phải có mùi vị của nước mắm hài hòa với vị chua của chanh (hay có thể dùng giấm) và vị ngọt của đường.

Nước cốt dừa: cho khoảng 1lít nước ấm vào 0,5 kg dừa khô đã nạo, nhào trộn và vắt, lược lấy phần nước cốt dừa. Sau đó cho thêm hành lá cắt khúc, một ít muối và đường để tạo vị ngọt cho bánh.

Pha bột: Cho thêm khoảng nửa lít nước vào phần xác dừa (đã dùng để vắt nước cốt), tiếp tục vắt lấy nước dừa dão. Phần nước dừa này dùng để pha bột nhằm làm tăng độ béo và tăng cấu trúc của bánh.

Khuấy đều bột gạo với một ít nước ấm và nước dừa dão ở trên. Đánh một hoặc vài trứng gà trộn đều vào bột làm tăng độ nở và giá trị dinh dưỡng của bánh. Hành lá xắt nhuyễn bổ sung vào bột làm cho bánh thơm ngon. Ngoài ra, bột nghệ cũng được pha chung với bột để tạo bánh có màu vàng đẹp. Cũng cần nêm gia vị như muối, đường, bột ngọt cho vừa ăn và có thể bổ sung bột mì để tăng độ dòn của vỏ bánh.

Quá trình pha bột giúp cho tinh bột trong bột gạo hút nước và tạo dung dịch lỏng để thuận lợi cho quá trình đổ khuôn bánh. Tinh bột khi đã hút nước sẽ thực hiện quá trình trương nở, hồ hóa và làm chín bánh dễ dàng khi đun nóng trên khuôn.

2 Chiên bánh

Khuôn bánh đặt trên bếp than hoặc bếp củi cho thật nóng. Dùng mỡ (hoặc dầu) thoa khắp các khuôn cho thấm. Múc bột (bằng cái giá) đổ vào khoảng phân nửa hoặc 2/3 lỗ khuôn. Dựa vào tính chất hồ hóa và tạo gel (cấu trúc đông đặc) của tinh bột. Các hạt tinh bột gạo phân tán trong nước, khi được gia nhiệt sẽ kết dính lại tạo nên hình dạng của bánh. Đậy nắp cho bột chín sơ qua.

Sau khoảng 1 phút, ta mở nắp và lần lượt rưới nước cốt dừa đều khắp bề mặt bánh. Đậy nắp lần nữa cho chín bánh (khoảng 30 giây). Đợi bánh vàng đều, tróc ra, dậy lên mùi thơm của bột và dừa thì dùng muỗng múc từng cái xếp ra dĩa.

Nước cốt dừa làm tăng độ béo và thơm ngon của bánh. Nước cốt dừa cũng làm bánh trở nên xốp và dai hơn.

D. Giá trị dinh dưỡng

Bánh khọt được làm từ bột gạo nên thành phần bánh chủ yếu là tinh bột và một ít chất béo từ nước cốt dừa. Bánh khọt cũng là món ăn thanh đạm quen thuộc không chỉ với những người dân miền quê mà cả chốn thị thành ở Việt Nam.

Bánh ăn lúc còn nóng với rau sống, dưa leo hoặc chỉ ăn với nước mắm chua cay. Nếu là đám tiệc, ta có thể trình bày bánh trong những đĩa hột xoài to và thêm thắt một tí hoa văn bằng rau củ cho đẹp mắt.

 

8: Phở Việt Nam (Pho or Vietnamese Noodle Soup)

A. Giới thiệu

Phở là một món ăn truyền thống rất đặc sắc và phổ biến của người Việt. Món phở có mặt từ Nam tới Bắc với nhiều hương vị khác nhau tùy từng vùng miền. Phở phổ biến và hấp dẫn người ăn vì nước súp có hương vị rất ngon và bổ dưỡng do được phối hợp từ nhiều loại gia vị và nguyên liệu khác nhau kết hợp với cấu trúc bánh phở vừa mềm vừa dai ăn rất hấp dẫn. Phở Việt Nam đã nổi tiếng khắp thế giới và còn được tôn vinh là “di sản Việt Nam”.

Tuy nguồn gốc của Phở hiện nay vẫn chưa thống nhất, người ta có nhận thấy rằng Phở là cách kết hợp sáng tạo từ món bò hầm của Pháp và mì sợi của Trung Quốc. Theo Nguyễn Tùng (nhà nghiên cứu nhân loại học, Paris) và Apple (nhà báo của tờ New York Time), món Phở xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 tại Nam Định.

Khẩu vị và cách thưởng thức phở thay đổi tùy vùng. Ở Miền Bắc, ngoài Phở bò còn có Phở gà, ăn Phở chỉ dùng chung với hành cọng hoặc hành tím, ít dùng rau. Ở Miền Nam thì gần như chỉ có Phở bò và dùng rất nhiều loại rau mùi kèm với Phở. Miền Trung thì nước dùng Phở có bổ sung nhiều sản vật của biển như khô mực, tôm khô tạo hương vị đặc trưng cho nước dùng Phở. Hầu hết tại các địa phương đều có một vài quán nấu phở ngon nổi tiếng mang hương vị đặc trưng. Công thức nấu nước súp Phở và làm bánh Phở rất độc đáo và được xem là tài sản gia truyền của nhiều gia đình.

B. Qui trình sản xuất

1 Qui trình làm bánh phở

2 Qui trình nấu phở bò

C. Giải thích qui trình chế biến bánh phở

Nguyên liệu: tinh bột gạo có có chứa amylose và amylopectin. Cả hai thành phần này đều có khả năng hồ hóa ở nhiệt độ 60 – 90oC và tạo màng tốt khi hồ hóa. Khi đã hồ hóa và tạo màng. Màng tinh bột có thể phơi khô và bảo quản được lâu. Tính chất tạo màng của tinh bột được ứng dụng trong sản xuất bánh phở. Màng tinh bột gạo khô có khả năng hút nước và phục hồi lại cấu trúc sau khi ngâm vào nước nóng 50-60oC. Trong đó thành phần amylose sẽ là thành phần chính tạo cấu trúc màng còn amylopectin sẽ làm tăng tính dai của màng. Ngoài ra bánh phở ngon là phải có hương thơm thoang thoảng của gạo, vì vậy chọn lựa nguyên liệu gạo thích hợp sẽ giúp làm được bánh phở ngon

Ngâm: Mục đích quá trình ngâm là giúp hạt gạo mềm dễ xay mịn. Trong khi ngâm, nước sẽ ngấm vào hạt gạo (hydrat hóa) làm mềm hạt gạo làm quá trình xay diễn ra thuận lợi hơn. Thời gian ngâm 1-2 giờ ở nhiệt độ thường. Nếu thời ngâm qua ngắn gạo sẽ chưa nở tốt, nhưng nếu ngâm quá lâu sẽ làm gạo bị lên men chua.

Xay: Quá trình xay sẽ giải phóng các hạt tinh bột trong gạo, làm mịn và chuyển khối gạo thành khối đồng nhất. Điều này sẽ giúp quá trình tráng được dễ dàng và bề mặt của bánh phở được mịn. Tỉ lệ nước:gạo trong lúc xay là 1:1.

Lọc hoặc bồng: Bột gạo thu được sau khi xay sẽ được đem để thu hồi tinh bột và loại bỏ tạp chất. Việc lọc còn giúp làm giảm lượng nước có trong dịch tinh bột tạo thuận lợi cho việc tráng bánh sau này. Do các hạt tinh bột thường có xu hướng kết tụ với nhau làm nghẹt và kéo dài thời gian lọc, nên trên thực tế sản xuất với số lượng lớn, người ta lắng và gạn tách nước thay vì lọc.

Khuấy: sau khi lọc, bột được pha với nước theo tỉ lệ nhất định. Để tăng thêm tính dai và giữ lâu cho bánh phở, người ta thường bổ sung bột khoai mì, bột năng (cung cấp thêm amylopectin tăng độ dai ) hoặc muối (tăng khả năng giử nước). Ngoài ra còn có một số phụ gia khác như lá cây bông bụp hay các chất tạo dai trong thực phẩm cũng được dùng để tăng tính dai của bánh phở. Việc áp dụng các chất tạo dai phải tuân theo quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm.

Việc pha thêm nước vào bột là một quá trình quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bánh phở. Khi quá trình hồ hóa xảy ra, tinh bột sẽ hút nước để trương nở và hình thành cấu trúc mạng, nếu cho nước quá ít, tinh bột không đủ nước để trương nở sẽ làm bánh phở bị cứng, khi phơi khô các hạt tinh bột mất nước không đều nhau sẽ làm bánh phở bị nứt, gãy. Nếu cho nước quá nhiều khi hồ hóa, các hạt tinh bột nở quá lớn, phá vở lớp màng sẽ làm bánh bị bở, không dai, không thể cắt sợi.

Tráng: Đây là quá trình hình thành cấu trúc màng của tinh bột gạo. Bột sau được hòa với nước ở tỉ lệ nhất định sẽ được tráng lên mặt vải. Mặt vải này đặt trên một nồi nước sôi để cung cấp nhiệt cho tinh bột hồ hóa. Sau đó đậy nấp trong khoảng 2 phút rồi dùng thanh tre mỏng lấy lớp bánh lên.

Ở nhiệt độ 70 – 90oC các phân tử tinh bột sẽ trương nở, dàn phẳng ra, sắp xếp và tương tác trực tiếp với nhau bằng liên kết hydro hoặc gián tiếp qua phân tử nước hình thành nên cấu trúc màng. Ngoài ra các mạch tinh bột cũng có thể liên kết với protein có trong gạo và bột khoai mì giúp tăng cường độ bền chắc của cấu trúc màng. Lớp tráng khoảng 2mm nếu quá dày bánh phở sẽ khó phơi khô và dễ đứt gãy do các lớp tinh bột giãn nở không đều. Tráng bánh quá mỏng sẽ không cho ra bánh phở dai và giữ được cấu trúc tốt khi nấu phở.

Phơi bánh phở: Quá trình làm khô sẽ làm ráo và cố định hình dáng bánh, giúp tạo sự thuận tiện cho quá trình cắt. Bánh phở sẽ được phơi trên vĩ khoảng 3 giờ

Cắt sợi: Các bánh phở được đem cắt thành sợi bằng máy cắt.

Phơi Khô: Sợi phở sau khi cắt sẽ được phơi khô. Việc phơi khô nhằm sẽ giảm lượng nước trong bột, ức chế sự phát triển của vi sinh vật, giúp kéo dài thời gian bảo quản và kinh tế hơn trong quá trình vận chuyển.

D. Thành phần dinh dưỡng

Phở không những là một món ăn truyền thống hấp dẫn, quen thuộc của Việt Nam mà nó đã trở thành một trong những biểu tượng về văn hóa ẩm thực của Việt Nam được cả thế giới biết đến. “Phở là món ăn Việt Nam tinh tế, truyền thống, quảng đại và giàu Vitamin mà lại không gây béo”, ông Didier Corlou, bếp trưởng khách sạn Sofitel Metropole khẳng định như vậy tại cuộc hội thảo "Phở -Di sản của Việt Nam" do Cộng đồng châu Âu và Câu lạc bộ văn hóa ẩm thực UNESCO Việt Nam đã phối hợp tổ chức (theo http://www.hotrockcafe.com.vn/phovietnam.asp ). Phở có mặt trên khắp Việt Nam và thế giới. Không những ở dạng truyền thống, món Phở còn được phát triển thành nhiều dạng khác như phở xào và phở cuốn.

Tải về
Chia sẻ
Bình luận
Tin cùng chuyên mục
  • PHẦN I: BÀI 1 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM TỪ GẠO THƯỜNG (24/10/2026)
  • TẦM QUAN TRỌNG CỦA LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM VÀ VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM (22/10/2026)
  • Ý NGHĨA MÂM CƠM NGƯỜI VIỆT QUA TỪNG THỜI KỲ LỊCH SỬ (13/10/2026)
  • An toàn thực phẩm: Khi những câu chuyện từ đời sống lên sóng VTV (08/10/2026)
  • Chuyên mục 'An toàn thực phẩm' chính thức lên sóng VTV1 (06/10/2026)

Danh mục blog

  • Tin thị trường

Bài viết mới nhất

  • PHẦN I: BÀI 2 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM TỪ GẠO THƯỜNG

    PHẦN I: BÀI 2 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM...

    27/10/2026
  • PHẦN I: BÀI 1 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM TỪ GẠO THƯỜNG

    PHẦN I: BÀI 1 CÁC SẢN PHẨM ĐƯỢC LÀM...

    24/10/2026
  • TẦM QUAN TRỌNG CỦA LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM VÀ VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT NAM

    TẦM QUAN TRỌNG CỦA LƯƠNG THỰC, THỰC...

    22/10/2026
  • Ý NGHĨA MÂM CƠM NGƯỜI VIỆT QUA TỪNG THỜI KỲ LỊCH SỬ

    Ý NGHĨA MÂM CƠM NGƯỜI VIỆT QUA TỪNG...

    13/10/2026
  • An toàn thực phẩm: Khi những câu chuyện từ đời sống lên sóng VTV

    An toàn thực phẩm: Khi những câu...

    08/10/2026

Hỗ trợ trực tuyến

 
CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI THỰC PHẨM FFL
 
  • Địa chỉ: Tầng 3, Số nhà C18, tổ 19, Hoàng Cầu, Phường Đống Đa, TP Hà Nội
  • Phone: 0967.339.389: 0989.626.091
  • Email: thucphamffl@gmail.com

 

Sản Phẩm

  • Quà tặng
  • Đặc sản vùng miền
  • Thực phẩm
  • Bánh kẹo, nước ngọt
  • Lương thực
  • Hàng gia dụng
  • Thiết bị gia dụng

Giới thiệu

  • Về FFL
  • Liên hệ

Fanpage